Tết nguyên đán



 

Từ Tết là âm Hán Việt cổ, do chữ “Tiết” mà thành. Hai chữ “Nguyên Đán” có gốc chữ Hán; “nguyên” có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và “đán” là buổi sáng sớm, đọc đúng phiên âm phải là “Tiết Nguyên Đán”, người Trung Quốc ngày nay gọi là Xuân tiết, Tân niên hoặc Nông lịch tân niên. Đông Á thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước, do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã “phân chia” thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau, ứng với mỗi tiết có một thời khắc giao thời, trong đó tiết quan trọng nhất là Tiết Nguyên Đán.

Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi tháng đầu năm theo từng thời kỳ. Đời Tam đại, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng Giêng tức tháng Dần, nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Chạp tức tháng Sửu, nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Mười Một tức tháng Tý. Đời Đông Chu, Khổng Tử đổi ngày Tết vào tháng Giêng. Về sau Tần Thủy Hoàng lại đổi sang tháng Mười. Thời Hán Vũ Đế đặt lại ngày Tết vào tháng Giêng, cho đến nay không có thay đổi nào nữa.

Tết Nguyên Đán là lễ quan trọng trong văn hóa Việt Nam; Tết Nguyên Đán còn gọi là Tết Cả, Tết ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, và thường chỉ gọi đơn giản là Tết. Do cách tính của âm lịch khác nhau nên Tết của Việt Nam không hoàn toàn trùng với các nước có Tết Âm lịch khác. Cũng vì Âm lịch tính theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương lịch, lại do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày mùng 1 Tết không bao giờ trước ngày 21/1 và sau ngày 19/2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết thường kéo dài từ 23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng. Người Việt luôn cố gắng làm mới mọi thứ vào dịp Tết, từ ngoại vật cho đến lòng người, vì vậy khoảng mươi ngày trước Tết họ thường trang trí nhà cửa, sắm sửa quần áo và đồ ăn. Tết không chỉ kiêng nóng giận, mà còn là dịp để hàn gắn những hiềm khích, mọi người đi thăm và chúc nhau những lời ý nghĩa tốt đẹp.

Những phiên chợ Tết thường họp vào khoảng 23 đến 30 tháng Chạp, bán đa số mặt hàng phục vụ cho Tết như lá dong, gạo nếp, gà trống, các loại trái cây dùng thờ cúng. Vì những ngày Tết hầu như chợ không họp nên phải mua nhiều hơn để dùng. Hơn nữa, chợ Tết cũng để thỏa mãn một số nhu cầu thưởng ngoạn, nhiều nơi còn tổ chức những trò chơi giải trí trong hoặc ngoài chợ để mọi người vui Xuân sớm. Có chợ Tết còn họp suốt đêm.

Mâm ngũ quả

Mâm ngũ quả là một mâm trái cây ngày xưa có 5 thứ trái cây khác nhau, thường có trong ngày Tết Nguyên Đán của người Việt, về sau có thể nhiều hơn, bày lên thể hiện nguyện ước của gia chủ qua tên gọi, màu sắc và cách sắp xếp.
Mâm ngũ quả của người miền Bắc thường có chuối, ớt, bưởi, quất, lê, cam, quýt, quả trứng gà, hồng xiêm, hồng đỏ. Chuối xanh cong lên ôm lấy bưởi mang ý nghĩa đùm bọc. Chọn 5 thứ quả theo quan niệm người xưa là ngũ hành ứng với mệnh của con người. Chọn số lẻ tượng trưng cho sự phát triển, sinh sôi.
Mâm ngũ quả người miền Nam thường có mãng cầu, sung, dừa, đu đủ, xoài với ngụ ý cầu sung vừa đủ xài.

Hoa đào

Miền Bắc thường chọn cành đào đỏ để cắm trên bàn thờ hoặc cây đào trang trí trong nhà. Theo quan niệm người Trung Quốc, đào có quyền lực trừ ma và mọi xấu xa, màu đỏ chứa đựng sinh khí mạnh, màu đào đỏ thắm là lời cầu nguyện và chúc phúc đầu xuân. Quan niệm này từ sự tích xưa ở phía đông núi Sóc Sơn, có một cây hoa đào mọc đã lâu đời. Cành lá đào sum suê, to lớn khác thường, bóng rậm che phủ cả một vùng rộng. Có hai vị thần tên là Trà và Uất Lũy trú ngụ ở trên cây hoa đào khổng lồ này, tỏa rộng uy quyền che chở cho dân chúng khắp vùng. Quỷ dữ sợ uy vũ sấm sét của hai vị thần, đến nỗi sợ cả cây đào. Đến ngày cuối năm, cũng như các thần khác, hai thần Trà và Uất Lũy lên thiên đình chầu Ngọc Hoàng, để ma quỷ khỏi quấy phá, dân chúng đã bẻ cành hoa đào về để xua đuổi ma quỷ.

Hoa mai

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, miền Nam thích hợp môi trường cho hoa mai đơm bông nẩy lộc mỗi dịp Tết đến Xuân về. Màu vàng tượng trưng cho sự cao thượng vinh hiển cao sang, còn tượng trưng cho vua. Màu vàng thuộc hành Thổ trong Ngũ hành, theo quan điểm người Việt, Thổ nằm ở vị trí trung tâm và màu vàng được tượng trưng cho sự phát triển nòi giống. Đối với người miền Nam, nếu hoa mai nở đúng vào lúc đón Giao thừa hay nở vào sáng sớm ngày mùng 1 Tết thì điều đó có nghĩa là sự may mắn, thịnh vượng sẽ đến trong năm.

Hoa tết

Ngoài hai loại hoa đặc trưng cho Tết là đào và mai, hầu như nhà nào cũng có thêm những loại hoa để thờ cúng, trang trí. Hoa thờ cúng có thể như hoa huệ, vạn thọ, cúc, lay ơn... Hoa để trang trí thì muôn màu sắc như hoa hồng, thủy tiên, lan, thược dược, violet, đồng tiền, cẩm chướng, loa kèn, huệ tây, lá măng, thạch thảo... tạo sự phong phú và mang ý nghĩa sum họp cho bình hoa ngày tết. Màu sắc tươi vui chủ đạo của bình hoa cũng ngụ ý cầu mong một năm mới làm ăn phát đạt, gia đình an khang và sung túc.

Cây quất

Tết đến, cây quất thường được trang trí tại phòng khách hoặc hiên nhà, ngày càng có nhiều kiểu dáng cầu kỳ nhưng vẫn phải đảm bảo xum xuê, lá xanh tốt, quả vàng chi chít thể hiện sự trù phú, hứa hẹn năm mới được mùa, ăn nên làm ra, dồi dào sức sống.

Tranh Tết

Tranh Tết thường là tranh dân gian vẽ ngũ quả, chiếc cuốn thư... Màu sắc rực rỡ như khơi gợi nên cảm giác mới mẻ ấm cúng rộn rã sắc xuân trong mỗi gia đình. Tranh Tết từ lâu một thú chơi của người Việt, nhà giàu hay nhà nghèo cũng có thể chơi tranh, nó là một phần không thể thiếu trong không gian của ngày Tết cổ truyền.
Trước đây các gia đình thường treo câu đối nhân ngày Tết, những câu đối được viết bằng chữ Nho màu đen hoặc vàng trên những tấm giấy đỏ. Ngày nay câu đối còn được làm trên gỗ, khảm xà cừ hoặc vàng, bạc và treo trang trí quanh năm.

Dựng cây nêu

Cây nêu là một cây tre cao hơn mái nhà xưa, đặt cạnh cổng vào những ngày cuối năm. Ở ngọn thường treo nhiều thứ tùy theo từng địa phương như vàng mã, bùa trừ tà, cành xương rồng, bầu rượu bện bằng rơm, hình cá chép bằng giấy để Táo quân dùng làm phương tiện về trời, giải cờ, điều màu đỏ, đôi khi người ta còn cho treo những chiếc khánh nhỏ bằng đất nung, mỗi khi gió thổi, những khánh đất va chạm nhau tại thành những tiếng kêu leng keng.
Cây nêu thường được dựng vào ngày 23 tháng Chạp, là ngày Táo quân về trời, chính vì từ ngày này cho tới đêm Giao thừa vắng mặt Táo công, ma quỷ thường nhân cơ hội này lẻn về quấy nhiễu, nên phải trồng cây nêu để trừ tà.
Ở Gia Định xưa, sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, Tập Hạ chép rằng: “Bữa trừ tịch mọi nhà ở trước cửa lớn đều dựng một cây tre, trên buộc cái giỏ bằng tre, trong giỏ đựng trầu cau vôi, ở bên giỏ có treo giấy vàng bạc, gọi là lên nêu... có ý nghĩa là để làm tiêu biểu cho năm mới mà tảo trừ những xấu xa trong năm cũ”. Người ta tin rằng những vật treo ở cây nêu, cộng thêm những tiếng động của những khánh đất là để báo hiệu cho ma quỷ biết nơi đây là nhà có chủ, không được tới quấy nhiễu... Vào buổi tối, người ta treo một chiếc đèn lồng ở cây nêu để tổ tiên biết đường về nhà ăn Tết với con cháu. Vào đêm trừ tịch còn cho đốt pháo ở cây nêu để mừng năm mới tới, xua đuổi ma quỷ hoặc những điều không maỵ.
Ngày 7 tháng Giêng triệt hạ, gọi là hạ nêu phàm những khoản vay mượn trong tiết ấy không được đòi hỏi, phải đợi ngày hạ nêu”.

Cúng ông Táo

Sắp dọn bàn thờ là việc không thể thiếu. Trong gia đình người Việt thường có một bàn thờ tổ tiên, ông bà. Tuỳ theo từng nhà, cách trang trí và sắp đặt bàn thờ khác nhau, nhưng ý nghĩa bàn thờ đều là nơi tưởng nhớ, là thế giới thu nhỏ của người đã khuất. Hai cây đèn tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng, hương là tinh tú. Hai bát hương để đối xứng, phía sau 2 cây đèn thường có hai cành hoa cúc giấy, với nhiều bông nhỏ bao quanh bông lớn. Cũng có nhà cắm “cành vàng lá ngọc” bằng hàng mã với cầu mong làm ăn được quả vàng, quả bạc, buôn bán lãi gấp 5 hoặc gấp 10 lần năm trước. Ở giữa có trục “vũ trụ” là khúc trầm hương dưới dạng khúc khuỷu, vươn lên trong bát hương. Nhiều gia đình đặt xen giữa đèn và hương là hai cái đĩa để đặt hoa quả lễ, gọi là mâm ngũ quả nhưng mỗi miền có sự biến thiên các loại và số lượng quả, phía trước bát hương để một bát nước trong, coi như nước thiêng. Hai cây mía đặt ở hai bên bàn thờ là để các cụ chống gậy về với con cháu, dẫn linh hồn tổ tiên từ trên trời về hạ giới.
Tết của người Việt bắt đầu từ ngày 23 tháng Chạp, cũng là ngày người Việt cúng ông Táo tức thần bếp, thần ghi chép tất cả những việc mà con người đã làm trong năm cũ và báo cáo với Ngọc Hoàng những vấn đề tốt xấu, lễ cúng thần ngoài hương, nến, hoa quả, vàng mã còn có hai mũ đàn ông, một mũ đàn bà, ba con cá chép thật hoặc làm bằng giấy kèm theo cỗ mũ, cá chép sẽ đưa ông Táo vượt qua Vũ Môn để lên Thiên đình gặp Ngọc Hoàng.

Gói bánh chưng

Theo phong tục của người Việt là ngày gói bánh chưng và chuẩn bị các món đồ tế lễ trong dịp Tết. Cũng trong ngày này, nguời ta thường đi thăm mồ mả gia tiên, sửa sang, dọn cỏ, quét vôi và làm một mâm cỗ cúng mời tổ tiên về ăn Tết với con cháu.

Tất niên

Ngày cuối cùng của năm được gọi là ngày Tất niên, buổi chiều hoặc tối người ta làm cỗ cúng tất niên. Ngày này có thể là ngày 30 hoặc 29 tùy theo năm đó tháng Chạp đủ hay không, theo thói quen người ta đều gọi là ngày 30 Tết. Đúng nửa đêm, là thời khắc quan trọng nhất của Tết, đánh dấu sự chuyển giao năm cũ và năm mới, được gọi là Giao thừa. Để ghi nhận thời khắc này, người ta thuờng làm hai mâm cỗ. Một mâm cúng gia tiên tại bàn thờ ở trong nhà mình và một mâm cúng thiên địa ở khoảng sân trước nhà. Một số cộng đồng lấy con hổ là vật thờ thì gọi là cúng Ông Ba Mươi. Một số cộng đồng khác thì có một phần cỗ dành để cúng chúng sinh, cúng những cô hồn lang thang, không nơi nương tựa.

Giao thừa

Giao thừa là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Trong thời khắc giao thừa mọi người trong gia đình thường dành cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất. Trước đây các gia đình đốt pháo, về sau do chính phủ cấm nên người ta thường bắn pháo hoa nơi công cộng.
Cúng Giao thừa, tức lễ trừ tịch là lễ cúng để đem bỏ hết đi những điều xấu của năm cũ sắp qua để đón những điều tốt đẹp của năm mới sắp đến. Lễ trừ tịch còn là lễ để khu trừ ma quỷ, do đó có tên Trừ tịch.
Theo tục lệ còn có cúng Giao thừa ngoài trời nhằm đón Thiên binh là một trong 12 vị Hành khiển đi thị sát hạ giới, họ rất vội không kịp vào trong nhà được, nên bàn cúng thường được đặt ở ngoài cửa chính. Hết một năm, vị Hành khiển cũ đã cai quản Hạ giới trong năm cũ sẽ bàn giao công việc cho vị Hành khiển mới. Mỗi năm một vị, sau 12 năm thì các vị Hành khiển sẽ luân phiên trở lại. Mười hai vị Hành khiển và Phán quan gồm:
1. Chu Vương Hành Khiển, Thiên Ôn Hành Binh chi Thần, Lý Tào Phán quan. Quản năm Tý.
2. Triệu Vương Hành Khiển, Tam thập lục phương Hành Binh chi Thần, Khúc Tào Phán quan. Quản năm Sửu.
3. Ngụy Vương Hành Khiển, Mộc Tinh chi Thần, Tiêu Tào Phán quan. Quản năm Dần.
4. Trịnh Vương Hành Khiển, Thạch Tinh chi Thần, Liêu Tào Phán quan. Quản năm Mão.
5. Sở Vương Hành Khiển, Hỏa Tinh chi Thần, Biểu Tào Phán quan. Quản năm Thìn.
6. Ngô Vương Hành Khiển, Thiên Hải chi Thần, Hứa Tào Phán quan. Quản năm Tỵ.
7. Tấn Vương Hành Khiển, Thiên Hao chi Thần, Nhân Tào Phán quan. Quản năm Ngọ.
8. Tống Vương Hành Khiển, Ngũ Đạo chi Thần, Lâm Tào Phán quan. Quản năm Mùi.
9. Tề Vương Hành Khiển, Ngũ Miếu chi Thần, Tống Tào Phán quan. Quản năm Thân.
10. Lỗ Vương Hành Khiển, Ngũ Nhạc chi Thần, Cự Tào Phán quan. Quản năm Dậu.
11. Việt Vương Hành Khiển, Thiên Bá chi Thần, Thành Tào Phán quan. Quản năm Tuất.
12. Lưu Vương Hành Khiển, Ngũ Ôn chi Thần, Nguyễn Tào Phán quan. Quản năm Hợi.
Mâm lễ được sắp bày với lòng thành kính tiễn đưa người nhà trời đã cai quản mình năm cũ trở lại Thiên đình và đón người mới xuống cai quản hạ giới năm tới. Vì việc bàn giao, tiếp quản công việc hết sức khẩn trương nên các vị chỉ có thể hưởng vội vàng hoặc mang theo, thậm chí chỉ chứng kiến lòng thành của chủ nhà. Trên chiếc hương án có bình hương, hai ngọn đèn dầu hoặc hai ngọn nến.
Lễ vật gồm thủ lợn hoặc con gà, bánh chưng, mứt kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu nước và vàng mã.
Các quan thấu hiểu ngay gia chủ. Nếu có ý cầu lợi, mua chuộc, đút lót, các vị chỉ nhìn dấu hiệu ở khói hương, lửa đèn là biết ngay. Trái lại, những nhà chân chất, thật thà, sống bằng lao động, ăn ở tử tế thì có khi chỉ cần chén rượu, nén hương giống như thổ công đánh tín hiệu qua hương đèn, các vị vui vẻ thưởng thức, dốc lòng phù hộ.

Cúng Giao thừa trong nhà

Cúng Giao thừa trong nhà là lễ cúng tổ tiên vào thời khắc giao thừa tới. Mâm lễ bao gồm các món ăn mặn ngày Tết được chế biến tinh khiết, trang nghiêm, bao gồm:
- Cỗ mặn có bánh chưng, giò, chả, xôi, thịt gà, các món ăn mặn khác tùy theo nhu cầu của gia đình.
- Cỗ ngọt và chay có hương, hoa, đèn nến, bánh kẹo, mứt, rượu hoặc các loại đồ uống khác.
Khi cúng Giao thừa trong nhà, tất cả các thành viên trong gia đình đứng trang nghiêm trước bàn thờ, khấn tổ tiên, trước đó gia chủ khấn Thổ Công, tức là vị thần cai quản trong nhà để xin phép cho tổ tiên về ăn Tết. Thường bàn thờ tổ tiên ở giữa, bàn thờ Thổ Công ở bên trái.

Xông đất

Xông đất hay đạp đất, mở hàng là tục lệ xông đất đã có lâu đời. Nhiều người quan niệm ngày mùng 1 khai trương năm mới, vào ngày này nếu mọi việc diễn ra suôn sẻ, may mắn, cả năm cũng sẽ được tốt lành, thuận lợi. Ngay sau thời khắc giao thừa, bất cứ người nào bước từ ngoài vào nhà với lời chúc năm mới được coi là đã xông đất cho gia chủ. Người khách đến thăm nhà đầu tiên trong một năm cũng vì thế mà quan trọng. Cho nên cứ cuối năm, mọi người cố ý tìm xem những người trong bà con hay láng giềng ưng ý để nhờ sang thăm. Người đến xông đất thường chỉ đến thăm, chúc tết chừng 5 đến 10 phút chứ không ở lại lâu, hầu cho mọi việc trong năm của chủ nhà cũng được trôi chảy thông suốt.

Quan niệm về tuổi xông đất

1. Tuổi Giáp hợp với Kỷ mà kỵ với Canh - Mậu.
2. Tuổi Ất hợp với Canh mà kỵ với Tân - Kỷ.
3. Tuổi Bính hợp với Tân mà kỵ với Nhâm - Canh.
4. Tuổi Đinh hợp với Nhâm mà kỵ với Quý - Tân.
5. Tuổi Mậu hợp với Quý mà kỵ với Giáp - Nhâm.
6. Tuổi Kỷ hợp với Giáp mà kỵ với Ất - Quý.
7. Tuổi Canh hợp với Ất mà kỵ với Bính - Giáp.
8. Tuổi Tân hợp với Bính mà kỵ với Đinh - Ất.
9. Tuổi Nhâm hợp với Đinh mà kỵ với Mậu - Bính.
10. Tuổi Quý hợp với Mậu mà kỵ với Kỷ - Đinh.
Thời xưa, thường tìm người làm quan hoặc người có học hành và hợp tuổi với chủ nhà để nhờ xông đất.

Ba ngày Tân niên


Trong những ngày này người ta thường đi thăm viếng, hỏi han nhau những điều đã làm trong năm cũ và những điều sẽ làm trong năm mới.
* Ngày mùng 1 tháng Giêng là ngày Tân niên, còn gọi là ngày Chính đán, được coi là ngày quan trọng nhất trong toàn bộ dịp Tết. Không kể những người tốt số, hợp tuổi được mời đi xông đất, vào sáng sớm ngày này, người Việt xưa thường không ra khỏi nhà, chỉ bày cỗ cúng Tân niên, ăn tiệc và chúc tụng nhau trong nội bộ gia đình. Con cháu tụ họp ở nhà tộc trưởng để lễ tổ tiên và chúc tết ông bà, các bậc huynh trưởng. Theo quan niệm, cứ năm mới tới, mỗi người tăng lên một tuổi, bởi vậy ngày mùng Một Tết là ngày con cháu “chúc thọ” ông bà và các bậc cao niên. Ngày xưa thường không nhớ rõ ngày tháng sinh nên chỉ biết Tết đến là tăng thêm một tuổi. Đối với những gia đình đã tách khỏi cha mẹ và cha mẹ vẫn còn sống, họ chúc Tết riêng các ông bố theo tục mùng 1 Tết cha.
* Ngày mùng 2 tháng Giêng cũng có những hoạt động cúng lễ tại gia vào sáng sớm. Sau đó chúc Tết riêng các bà mẹ theo tục mùng 2 Tết mẹ. Với đàn ông chuẩn bị lập gia đình còn phải đến nhà cha mẹ vợ tương lai chúc Tết, gọi là Đi sêu.
* Ngày mùng 3 tháng Giêng, sau khi cúng cơm tại gia theo lệ cúng ít nhất đủ ba ngày Tết, các học trò thường đến chúc Tết thầy dạy học theo tục mùng 3 Tết thầy.

Thăm viếng người thân quen

* Thăm viếng họ hàng là để gắn kết tình cảm gia đình họ hàng. Lời chúc tết thường là sức khỏe, phát tài phát lộc, gặp nhiều may mắn, mọi ước muốn đều thành công... Những người năm cũ gặp rủi ro thì động viên nhau tai qua nạn khỏi, an ủi của đi thay người nghĩa là trong cái họa cũng tìm thấy cái phúc.
* Đến thăm những người hàng xóm, chúc họ những câu tốt lành đầu năm mới. Những chuyến thăm hỏi này giúp gắn kết mọi người với nhau, xóa hết những khúc mắc của năm cũ, vui vẻ đón chào năm mới.
* Đến thăm những người bạn bè, đồng nghiệp, những người thân thiết với mình để chúc họ những câu tốt lành, giúp tình cảm bạn bè gần gũi hơn.

Mừng tuổi

Người lớn thường tặng trẻ em tiền bỏ trong một bao giấy đỏ, hay “hồng bao”, gọi là “lì xì” với những lời chúc mừng ăn no, chóng lớn. Theo cổ tích Trung Quốc thì trong “hồng bao” có 8 đồng tiền là Bát Tiên hóa thân, được đặt dưới gối đứa trẻ để xua đuổi quỷ đến quấy nhiễu.
Tiền mừng tuổi nhận được trong ngày Tết gọi là “Tiền mở hàng”. Xưa còn có lệ cho tiền phong bao với số tiền lẻ, ngụ ý tiền này sẽ sinh sôi nảy nở thêm nhiều.

Xuất hành, hái lộc, xin xăm

Xuất hành là lần đi ra khỏi nhà đầu tiên trong năm, thường được thực hiện vào ngày tốt đầu tiên của năm mới để đi tìm may mắn cho bản thân và gia đình. Trước khi xuất hành, người ta phải chọn ngày Hoàng đạo, giờ Hoàng đạo và các phương hướng tốt để mong gặp được các quý thần, tài thần, hỉ thần...
Tại miền Bắc, nếu xuất hành ra chùa hay đền, sau khi lễ bái, người Việt còn có tục bẻ lấy một cành lộc để mang về nhà lấy may, lấy phước. Đó là tục hái lộc. Cành lộc là một cành nhỏ của những loại cây quanh năm tươi tốt và nẩy lộc. Tục hái lộc ở các nơi đền, chùa ngụ ý xin hưởng chút lộc của Thần, Phật ban cho nhân năm mới. Cành lộc thường đem về cắm ở bàn thờ. Khác với miền Bắc, miền Trung xưa không có tục hái lộc đầu năm, nhờ thế mà cây cối trong các đền chùa ở miền Trung vẫn giữ nguyên lá cành.
Những ngày đầu năm âm lịch nhiều người thích đi lễ ở các lăng tẩm, đền chùa để cúng bái và xin thẻ tức xin xăm, phong tục này thường được tiến hành chung với tục lệ chọn hướng xuất hành và hái lộc. Xin xăm là một hình thức tin vào các thẻ xăm có ghi lời sấm báo trước điềm lành hay dữ trong năm và thường cần có thầy bàn xăm. Ở miễn Bắc có tục bốc quẻ thẻ, người xin thẻ dâng một lễ mọn rồi chọn lấy một quẻ thẻ bằng tre viết chữ Hán. Trên quẻ thẻ thường ghi một câu văn ngắn gọn rút từ điển tích Trung Hoa cổ. Căn cứ câu văn ấy, người xin thẻ có thể luận ra “tiền định” cuộc đời mình trong năm đó. Nếu không thông thạo Hán Văn, có thể thuê thầy đồ luận giải giúp.

Hóa vàng

Ngày mùng 4 tháng Giêng theo lịch cổ là ngày con nước. Trong ngày này, người Việt làm lễ cúng tổ tiên đã về ăn Tết với con cháu và đốt nhiều vàng mã để tiền nhân về cõi âm có thêm tiền vốn đầu năm, đặng phù hộ độ trì cho con cháu hậu thế làm ăn phát đạt. Tại nhiều vùng ở Đồng bằng Bắc Bộ, người Việt có tục hát chèo đò đưa tổ tiên trở lại thế giới bên kia. Do tục hóa vàng nên nên trước kia vào ngày mùng 4 hoặc mùng 5 người ta kiêng xuất hành vì cho là ngày không tốt.

Khai hạ

Chiều ngày mùng 6 hoặc vào ngày mùng 7 tháng Giêng là ngày cuối cùng của lễ Tết. Trong ngày này, người Việt làm lễ hạ cây nêu, gọi là lễ Khai hạ, kết thúc dịp Tết Nguyên đán và bắt đầu bước vào việc làm ăn trong năm mới.

Ẩm thục ngày Tết

Thành ngữ Việt Nam có câu “đói giỗ cha, no ba ngày Tết”. Tết đến, dù nghèo khó đến đâu thì người ta cũng cố vay mượn, xoay xở để có đủ ăn trong ba ngày Tết sao cho trẻ có bát canh, già được manh áo mới. Hơn thế nữa, dù có đói khát quanh năm thì đến Tết, mọi người mà nhất là trẻ em thường được ăn uống no đủ. Bữa ăn ngày Tết thường có nhiều món hơn bữa ăn ngày thường. Vì vậy mà người ta cũng thường gọi là “ăn Tết”.
Ngoài cơm truyền thống còn có bánh chưng, bánh dầy, bánh tét, bóng bì, canh măng, chân giò kèm nấm hương, miến nấu lòng gà, nem rán, xôi gấc, xôi đỗ, thịt gà, thịt đông, món xào, giò lụa, giò mỡ, nộm, dưa hành muối, mứt gừng, mứt bí, mứt cà chua, mứt táo, mứt dừa, mứt quất, mứt sầu riêng, mứt mít, mứt khoai, mứt hạt sen, mứt chà-là, mứt lạc, mứt me, trái cây, kẹo bột, kẹo dồi, kẹo vừng tức kẹo mè, kẹo thèo lèo, kẹo dừa, kẹo cau, kẹo đậu phụng, bánh chè lam, hạt dưa, hạt bí, hạt hướng dương, hạt điều, hạt dẻ rang...
Các gia đình miền Nam thường có thêm nồi thịt kho nước dừa còn gọi là kho rệu, nồi khổ qua hầm và nem bì, dưa giá miền Nam, củ kiệu ngâm, bánh tráng để quấn. Ngày trước miền Bắc có chè kho ngày Tết hiện nay ít được biết đến, cơm rượu và thịt đông, dưa hành. Miền Trung có dưa món và món tré, giống giò thủ của miền Bắc nhưng nhiều vị củ riềng, thịt chua và tai heo.
Thức uống ngày Tết phổ biến nhất vẫn là các loại rượu truyền thống như rượu nếp thơm, nếp cái hoa vàng (người Kinh), nếp nương (người Thái), nếp cẩm (người Mường), rượu San lùng, rượu ngô (người H'Mong, người Dao), rượu Mẫu sơn (người Tày, nguời Nùng), ruợu Bàu đá (Trung bộ), rượu đế (Nam Bộ)... Ngày nay còn có thêm các loại ruợu của phương Tây, bia và các loại nước ngọt. Sau bữa ăn, người ta thường dùng trà.

Một số phong tục khác

* Hát sắc bùa: Sau giao thừa, trẻ em nhà nghèo tụ thành từng nhóm, đến cửa các nhà vừa hát vừa gõ trống, chủ nhà mở cửa ra phát tiền mừng tuổi cho các em để hai bên cùng gặp hên.
* Gánh nước: Ngay sau Giao thừa hoặc sáng mùng 1, người nhà mang thùng ra sông hoặc ra giếng làng gánh nước về đổ đầy chum vại với hy vọng sang năm mới “của cải như nước non”.
* Lạy sống ông bà: Con cháu đến chúc Tết việc đầu tiên là phải vào quỳ lạy sống các cố và ông bà.
* Xin chữ: Nhiều người mua hoặc xin các cụ đồ một hoặc vài chữ Nho mang ý nghĩa cầu an, cầu tài lộc cho năm mới.
* Mua muối: Đầu năm mọi nhà đều mua muối để cầu may mắn đến; từ đó có câu đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi.
* Áo quần mới: Người ta cho rằng cần phải đón một năm mới với nhiều hi vọng và niềm vui mới từ những bộ quần áo mới.
* Trả nợ: Đối với nhiều người Việt, tất niên là dịp cố gắng trả nợ cũ, hướng tới năm mới làm ăn tấn tới.
* Cờ bạc: Ngày xưa các gia đình có nề nếp quanh năm cấm đoán con cháu không được cờ bạc rượu chè nhưng trong dịp Tết thì tam cúc, cờ gánh, cờ nhảy, chắn, tổ tôm... ai thích trò nào chơi trò ấy. Đến lễ khai hạ, tức hạ nêu thì xé bộ tam cúc, cất bộ tổ tôm... hoặc đốt các bộ bài trong lễ hóa vàng.
* Treo cờ: Cùng với cờ lễ nơi đình, chùa... trước và sau ngày thống nhất đất nước, các chính phủ đều khuyến khích treo quốc kỳ nơi công sở, trường học, nơi sinh hoạt công cộng kèm bích chương chúc mừng năm mới và các loại cờ ngũ sắc.
* Khai ấn và khai bút: Đầu Xuân, nhằm vào ngày tốt, giờ tốt, người có chức tước khai ấn; học trò, sĩ phu khai bút; nhà nông khai canh, người buôn bán thì mở hàng... Sau ngày mùng 1, dù có mải vui cũng chọn ngày để khai nghề, làm lấy ngày, nếu như mùng 1 tốt thì chiều bắt đầu. Riêng khai bút thì Giao thừa xong, chọn giờ Hoàng đạo không kể ngày tốt hay xấu. Người thợ thủ công nếu chưa ai thuê mướn đầu năm thì cũng tự làm cho gia đình một sản phẩm, một dụng cụ gì đó. Người buôn bán, vì ai cũng chọn ngày tốt nên phiên chợ đầu xuân vẫn đông, mặc dầu người bán chỉ bán lấy lệ, người ta thuờng đi chợ Tết khi du xuân.
Ngoài những tín ngưỡng chung, sự kiêng kỵ hay điềm lành trong quan niệm dân gian còn liên quan đến năm sinh, thậm chí tháng hoặc ngày giờ sinh của người ta, việc này được tính bằng 12 con giáp nói riêng và hệ thống Can Chi nói chung.

Kiêng kỵ

Theo quan niệm trong ngày đầu năm mà có nhiều điều tốt đẹp thì cả năm đó chắc chắn sẽ có nhiều điều tốt đẹp đến cho mọi người, do đó người Việt có một số kiêng kỵ như sau:
* Kỵ mai táng: Gia đình tạm gác mối sầu riêng vì niềm vui chung. Vì vậy có tục lệ cất khăn tang trong ba ngày Tết. Nhà có đại tang kiêng đi chúc Tết, mừng tuổi bà con, xóm giềng, ngược lại bà con xóm giềng đến an ủi gia đình bất hạnh. Trường hợp gia đình có người chết vào ngày 30 tháng Chạp mà có thể định liệu được thì nên chôn cất cho kịp trong ngày đó. Trường hợp chết đúng ngày mùng 1 Tết thì chưa phát tang vội, chuẩn bị mọi thứ để sáng mùng 2 làm lễ phát tang.
* Kiêng mặc quần áo màu trắng, đen: Theo quan niệm của người xưa, màu trắng và đen là màu của tang lễ, chết chóc, vì vậy những ngày đầu năm thì phải mặc trang phục với những màu sắc sặc sỡ và thu hút sự chú ý, tạo nên sự phấn khởi và vui vẻ để đón chào năm mới, như: màu hồng, đỏ, vàng, xanh...
* Ngày mùng 1 Tết kiêng cho lửa và nước, vì quan niệm lửa là đỏ là may mắn, nước được ví như nguồn tài lộc trong câu chúc tiền vô như nước.
* Kiêng quét nhà vì theo một điển tích của Trung Quốc, nếu hốt rác trong nhà đổ đi thì thần Tài sẽ đi mất.
* Ngày đầu năm cũng như ngày đầu tháng, người ta rất kiêng kỵ việc vay mượn hay trả nợ, cho vay. Người xưa quan niệm không nên vay tiền hoặc đồ đạc vào những ngày đầu năm mới, điều đó có thể làm chúng ta rơi vào cảnh túng thiếu cả năm, không may mắn.
* Trong ăn uống, người ta kiêng ăn thịt chó, cá mè, thịt vịt...
* Người ta thường kiêng khóc lóc, buồn tủi hoặc nói tới điều rủi ro hoặc xấu xa trong dịp Tết.
* Kiêng đi chúc Tết vào sáng mùng 1 Tết nếu không được gia chủ mời vì sợ sẽ mang đến điều không tốt đẹp cho chủ nhà trong năm mới.
Ngoài ra, trong những ngày Tết không để đánh vỡ bát đĩa, ấm chén, cãi nhau, chửi nhau, kiêng nói to không cần thiết, kiêng cãi nhau và tránh những điều không vui xảy ra với gia đình.

Điềm lành

* Hoa mai: sau Giao thừa, nếu hoa mai loại 5 cánh nở thêm nhiều và đầy đặn thì đó là một điềm may. Và may mắn hơn nữa khi có một hoặc vài bông hoa 6 cánh.
* Cây đào: Nếu có nhiều cánh kép, nhiều lớp trên đài hoa và có hình dáng như bông hồng thì sẽ có nhiều phúc lộc.
* Cây quất: Nếu cây có nhiều chồi xanh mọc thì năm đó sẽ có nhiều lộc. Nếu có đủ Tứ quý: Quả chín, quả xanh, hoa và lộc thì sẽ may mắn và thành đạt cả năm.
* Chó lạ vào nhà: Sau giao thừa có chó chạy vào nhà là điềm lành, mặc dù đa số chó chạy từ nhà này sang nhà khác do tục đốt pháo ngày xưa.

Lễ hội Tết


Tùy theo bản sắc văn hóa của mình, mỗi địa phương tổ chức lễ và hội Tết với những nét văn hóa khác nhau như thi đấu cờ người, đua thuyền, đấu vật, đánh còn, múa lân, múa rồng, thi thả chim bồ câu, bịt mắt bắt dê, múa võ, hát bội, hát cải lương, hát chèo, đánh đu, thi leo cột mỡ, đập niêu, chọi gà, bài chòi, chơi tổ tôm điếm và nhiều trò dân gian cổ truyền khác... Nhiều thành phố còn có lễ hội phố hoa cho khách thưởng ngoạn.
Nhiều lễ hỗi xưa đang được khôi phục, như ở làng cổ Vân Luông, xã Vân Phú thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xưa có hội ném đá, gọi là Ném Chài vào ngày 3 tháng Giêng, từ năm 1946 hội thôi tổ chức vì nguy hiểm tính mạng, năm 2004 lễ hội được phục hồi nhưng thay ném đá bằng túi vải đựng cát.
Ngoài lễ hội Tết, nhiều địa phương còn tổ chức các lễ hội Xuân kỷ niệm ngày đặc biệt: Chợ Âm Dương mùng 4 ở Bắc Ninh; Lễ hội Quang Trung mùng 5 ở gò Đống Đa; phiên chợ Chuộng mua bán lấy may tổ chức ngày mùng 6 tại Thanh Hóa, chợ Viềng mùng 7 tại Nam Định; lễ hội Cổ Loa tại Đông Anh; hội xuân Yên Tử ở Quảng Ninh...

Hai Hội




Xem thêm